Nghiên cứu đa văn hóa về sử dụng Internet có vấn đề ở chín quốc gia châu Âu (2018)

Tập 84 , tháng 7 năm 2018, trang 430-440

Laconi, St.

Máy tính trong hành vi con người 84 (2018): 430-440.

Điểm nổi bật

  • Tỷ lệ sử dụng Internet có vấn đề (PIU) dao động từ 14% đến 55%.
  • PIU thường xuyên hơn ở phụ nữ trong tất cả các mẫu.
  • Thời gian trực tuyến và các biến số tâm lý đã giải thích PIU trong tổng số mẫu.
  • PIU được giải thích bởi các biến khác nhau tùy thuộc vào quốc gia và giới tính.

Tóm tắt

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ giữa việc sử dụng Internet có vấn đề (PIU) và thời gian trực tuyến, các hoạt động trực tuyến và các rối loạn tâm thần, có tính đến sự khác biệt về văn hóa và giới tính. Mục tiêu thứ hai là cung cấp ước tính tỷ lệ hiện mắc PIU trong số người dùng Internet ở châu Âu. Mẫu nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 5593 người dùng Internet (2129 nam và 3464 nữ) đến từ chín quốc gia châu Âu, độ tuổi từ 18 đến 87 tuổi ( trung bình = 25.81; độ lệch chuẩn = 8.61). Được tuyển chọn trực tuyến, họ đã hoàn thành một số thang đo về việc sử dụng Internet và các rối loạn tâm thần. PIU có liên quan đến thời gian trực tuyến vào cuối tuần, các triệu chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, thái độ thù địch và ý tưởng hoang tưởng trong toàn bộ mẫu nữ; trong số nam giới, chứng lo âu ám ảnh cũng có ý nghĩa thống kê. Phân tích hồi quy được thực hiện trong từng mẫu cũng cho thấy tầm quan trọng của các triệu chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (trong bảy mẫu), chứng rối loạn cơ thể hóa (bốn mẫu) và thái độ thù địch (ba mẫu). Nhiều sự khác biệt về văn hóa và giới tính đã được quan sát thấy về mối quan hệ với các rối loạn tâm thần và các hoạt động trực tuyến. Ước tính tỷ lệ mắc chứng nghiện internet (PIU) dao động từ 14.3% đến 54.9%. PIU phổ biến hơn ở phụ nữ trong các mẫu nghiên cứu tương ứng, bao gồm cả toàn bộ mẫu nghiên cứu. Nghiên cứu châu Âu này làm nổi bật mối quan hệ có liên quan giữa PIU, các rối loạn tâm thần và thời gian sử dụng internet, cũng như những khác biệt quan trọng liên quan đến các biến số này trong các mẫu nghiên cứu tương ứng. Thiết kế nghiên cứu đa văn hóa này cũng cho phép hiểu rõ hơn về sự khác biệt giới tính trong PIU.